Print this page

Bản Tin Cảnh Báo, Dự Báo Nguồn Nước Lưu Vực Sông Cửu Long Tháng 01 Năm 2026

Bản tin cảnh báo, dự báo nguồn nước thángtrênlưu vực sông Cửu Long được biên soạn hàng thángđểcung cấp các thông tin về tổng lượng nướcmặtnội sinh tại các tiểu vùng dự báo, mực nước, chất lượng nước dưới đất phục vụ mục đích quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước và các mục đích khác theo quy địnhcủa Pháp luật.

 Lưu vực sông Cửu Long là một trong các lưu vực sông lớn của Việt Nam có tổng diện tích khoảng 3,99 triệu ha, trải rộng trên địa bàn nhiều tỉnh/thành phố như thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh An Giang, tỉnh Cà Mau và một phần phía Tây Nam của tỉnh Tây Ninh.

1.Hiện trạng nguồn nước mặt

Lượng mưa hàng năm của lưu vực sông Cửu Long vào khoảng 1300-2400mm, trung bình khoảng 1870mm/năm, mùa mưa trênlưu vực thường bắt đầu từ tháng V vàkéo dài đến tháng XI vớilượngmưachiếm khoảng 80-85% tổng lượng mưacả năm.Tổng lượng dòng chảy trung bình năm trên lưu vực sông Cửu Long khoảng 474 tỷ m3, trong đó có khoảng 30 tỷ m3được hình thành trong đồng bằng sông Cửu Long, 444 tỷ m3đến từ trung, thượng lưu sông Mê Công chảy vào,mùa lũ từ tháng VII đến tháng XI cólượng dòng chảythườngchiếm khoảng 70 – 80% tổng lượng dòng chảy năm,lượng dòng chảymùa cạnchiếm khoảng 20 – 30% tổng lượng dòng chảy năm

2. Hiện trạng nguồn nước dưới đất

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh):Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 12 so với tháng 11 có xu thế hạ. Trong đó có 19/29 công trình mực nước hạ, 7/29 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 3/29 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,56m tại xã An Long, tỉnh Đồng Tháp (Q031010) và giá trị dâng cao nhất là 0,3m tại xã Vĩnh Lợi, TP. Cần Thơ (Q618010).

27 1 26 50Sơ đồ dự báo diễn biến mực nước tầng qh

 

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3):Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 12 so với tháng 11 có xu thế hạ. Trong đó có 21/39 công trình mực nước hạ, 12/39 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 6/39 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,85m tại xã Châu Phú, tỉnh An Giang (Q40702BM1) và giá trị dâng cao nhất là 0,14m tại Phường Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Q209020).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene giữa-trên (qp2-3):Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 12 so với tháng 11 có xu thế hạ. Trong đó có 25/42 công trình mực nước hạ, 13/42 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 4/42 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,93m tại Phường Long Mỹ, TP. Cần Thơ (Q211020) và giá trị dâng cao nhất là 0,49m tại Phường Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Q209030).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene dưới (qp1):Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 12 so với tháng 11 có 18/37 công trình mực nước hạ, 12/37 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 7/37 công trình mực nước dâng.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n2 2):Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 12 so với tháng 11 có 19/39 công trình mực nước hạ, 13/39 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 7/39 công trình mực nước dâng.

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene dưới (n2 1):Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 12 so với tháng 11 có 15/32 công trình mực nước hạ, 12/32 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 5/32 công trình mực nước dâng.Giá trị hạ thấp nhất là 0,3m tại xã An Long, tỉnh Đồng Tháp (Q031040) và giá trị dâng cao nhất là 0,22m tại xã Trí Phải, tỉnh Cà Mau (Q608060).

Tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n1 3):Diễn biến mực nước dưới đất trung bình tháng 12 so với tháng 11 có xu thế hạ. Trong đó có 13/23 công trình mực nước hạ, 9/23 công trình mực nước dâng hạ không đáng kể và 1/23 công trình mực nước dâng. Giá trị hạ thấp nhất là 0,37m tại Phường Thanh Hòa, tỉnh Đồng Tháp (Q620070) và giá trị dâng cao nhất là 0,2m tại xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh (Q022070).Giá trị hạ thấp nhất là 0,37m tại Phường Thanh Hòa, tỉnh Đồng Tháp (Q620070) và giá trị dâng cao nhất là 0,2m tại xã Thạnh Hóa, tỉnh Tây Ninh (Q022070).

3. Đề xuất, kiến nghị

Đối với tài nguyên nước mặt:Tổng lượng tài nguyên nước mặt dự báo trên lưu vực sông Cửu Long có xu thế cao hơn trung bình khoảng 1 - 13 % so với tháng 01 năm 2025 do đang trong thời kỳ mùa khô. Vì vậy, để tận dụng nguồn nước mặt dồi dào, các địa phương cần tiếp tục khai thác nước mưa, nước ngọt để phục vụ sinh hoạt, canh tác tại địa phương và theo dõi các bản tin tiếp theo để có kế hoạch khai thác sử dụng nước phù hợp.

Đối với tài nguyên nước dưới đất:

Đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương và các tổ chức, cá nhân có khai thác sử dụng nguồn nước dưới đất tiếp tục theo dõi và có các biện pháp, kế hoạch khai thác phù hợp đối với các khu vực có độ sâu mực nước đang có nguy cơ hạ thấp tới ngưỡng giới hạn cho phép.

Nhìn chung, chất lượng nước dưới đất tại các tầng chứa nước trên lưu vực sông Cửu Long trong năm 2025 đa số nằm trong giới hạn cho phép, tuy nhiên có một số công trình có độ mặn, hàm lượng Mn, Pb, F-, NH4+ vượt quá GTGH so với QCVN 09:2023/BTNMT, tập trung ở các tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Holocene (qh), tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocene trên (qp3), Pleistocene giữa-trên (qp2 3), Pleistocene dưới (qp1), tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Pliocene giữa (n2 2), Pliocene dưới (n2 1) và tầng chứa nước lỗ hổng trong các đá trầm tích Miocene trên (n1 3).

Read 4 times
Rate this item
(0 votes)